Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3.

Lượt xem:

Đọc bài viết

  Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3.

 giáo viên: Trần Phương Hồng

  1. Lý do chọn biện pháp

Tiếng Việt là môn học quan trọng ở Tiểu học, giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, cung cấp những kiến thức cần thiết trong giao tiếp hằng ngày, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người.

Trong môn Tiếng Việt lớp 3, hoạt động Luyện viết đoạn văn là một hoạt động có vai trò quan trọng trong việc dạy học sinh hình thành văn bản nói và viết. Đặc biệt, việc thường xuyên thực hành viết đoạn văn sẽ giúp học sinh cảm thấy tự tin hơn trong việc diễn đạt suy nghĩ của mình. Chính vì vậy, Để dạy học sinh viết đoạn văn đạt hiệu quả giáo viên phải linh hoạt sáng tạo trong dạy học, giúp học sinh phát triển khả năng tư duy để có thể tìm ra những nét đặc trưng của đối tượng, tìm ý và có thể chuyển ý thành câu văn sau đó sắp xếp thành đoạn văn hoàn chỉnh.

Hiểu được điều đó, tôi đi sâu vào nghiên cứu “Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3”.

  1. Thực trạng

  Qua thực tế dạy học sinh luyện viết đoạn văn trong môn Tiếng Việt lớp 3 một số năm, tôi nhận thấy:

– Các bài viết của học sinh còn mắc lỗi dùng từ, đặt câu, học sinh chưa chú ý học các tiết Luyện viết đoạn văn;

– Các em còn thiếu tính sáng tạo khi viết văn.

Năm học 2023 – 2024, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3B với 34 học sinh. Đến cuối học kì I của năm học, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng viết đoạn văn của học sinh lớp tôi.

Đề bài: Viết đoạn văn tả đồ vật (Bài 18, Trang 88 – Tiếng Việt 3, Tập 1).

Kết quả thu được như sau:

Bảng 1. Kết quả khảo sát chất lượng viết đoạn văn lớp 3B

Cuối học kì I, năm học 2023-2024

Số HS Số bài viết sáng tạo Số bài viết đúng yêu cầu Số bài dùng từ viết câu chưa hợp lý Số bài chưa đạt yêu cầu
34 SL % SL % SL % SL %
2 5,9 15 44,1 13 38,2 4 11,8

          Qua kết quả khảo sát trên, tôi thấy số bài viết có sáng tạo còn ít; số bài dùng từ, viết câu hợp lý tỉ lệ còn cao (trên 38%) và đặc biệt vẫn còn bài chưa đạt yêu cầu.

  1. Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó tôi xác định có những nguyên nhân chính sau:

* Về phía giáo viên

– Một số giáo viên chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học, chưa phát huy được vai trò chủ động sáng tạo, tiềm năng sẵn có của các em, chưa thu hút được học sinh tham gia vào các hoạt động học tập.

– Giáo viên chưa chú ý nhiều đến việc dạy cho học sinh cách viết một đoạn văn, chưa uốn nắn kịp thời cách dùng từ, viết câu, sử dụng dấu câu cho các em, còn thiếu chú ý đến việc dạy Tiếng Việt trên quan điểm tích hợp nên kết quả viết đoạn văn của học sinh còn thấp.

* Về phía học sinh

    Ở lứa tuổi lớp 3, học sinh còn hiếu động, ham chơi, sự tập trung cho học tập và chú ý chưa cao, nhận thức còn mang tính trực quan, cụ thể, cảm tính.

– Vốn từ ngữ của học sinh còn hạn chế.

– Một số em chưa có kĩ năng viết đoạn văn, các em còn tỏ ra lúng túng: không biết bắt đầu từ đâu để viết đoạn văn; viết câu chưa đủ thành phần chính, dùng dấu câu chưa hợp lý, xếp ý lộn xộn,…

    Từ những thực trạng và nguyên nhân trên, “Làm thế nào để nâng cao chất lượng luyện viết đoạn văn cho học sinh?”, tôi đã nghiên cứu tìm hiểu và thực nghiệm Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng viết đoạn văn cho học sinh lớp 3.

  1. Giải pháp thực hiện

Biện pháp 1: Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực

Trong thực tế giảng dạy, có rất nhiều phương pháp dạy học tích cực song để giúp học sinh viết đoạn văn đạt hiệu quả, tôi thường áp dụng một số phương pháp sau:

1.1. Phương pháp trực quan

* Phương pháp trực quan là một phương pháp giảng dạy cơ bản có tác dụng giúp người học dễ dàng tiếp nhận tri thức mới, thông qua đó sẽ hứng thú học tập hơn, tạo sự tò mò, say mê nghiên cứu. Bên cạnh đó phương pháp trực quan còn giúp học sinh dễ dàng nhận biết mọi vật xung quanh, kích thích sự phát triển não bộ.

* Phương pháp dạy học trực quan được thể hiện dưới hai hình thức sau:

+ Quan sát đối tượng qua hình ảnh minh họa (tranh ảnh, bản đồ, hình vẽ trên bảng), qua bài trình chiếu (thiết bị kĩ thuật CNTT, phim, video..) mang lại hình ảnh, âm thanh rõ nét, sống động, từ đó giúp học sinh dễ dàng nhận ra các đặc điểm của đối tượng cần tả, kể, …

+ Quan sát vật thật áp dụng trong dạng bài viết đoạn văn tả đồ vật.

* Chú ý khi ứng dụng dạy học trực quan vào giảng dạy: 

– Thông qua hình ảnh trực quan, tôi khuyến khích học sinh tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học, truyền cảm hứng để học sinh không ngừng khám phá, quan sát và chủ động học tập, nghiên cứu, sáng tạo.

– Khi cho học sinh quan sát, tôi định hướng cách quan sát (quan sát theo trình tự nhất định như từ xa đến gần và ngược lại, từ bao quát đến chi tiết,….), đưa ra câu hỏi gợi ý để khai thác nội dung tranh, ảnh, vật thật, tránh giảng dạy theo cách thụ động tức là chỉ yêu cầu người học quan sát và làm theo.

– Cho HS ghi chép (ghi nhớ) những điều đã quan sát được để tìm ý và viết câu văn phù hợp.

Ví dụ: Khi dạy học sinh “Viết đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc của em về một cảnh vật em yêu thích” (Bài 8. Bầy voi trong rừngTiết 4 trang 39 SGK Tiếng Việt 3 tập 2), tôi đã cho HS quan sát các bức tranh về một số cảnh vật và yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi gợi ý về nội dung tranh:

  • Đó là cảnh đẹp ở đâu?
  • Em thích cảnh vật trong bức tranh nào? Vì sao?

Trên cơ sở ý kiến của học sinh, tôi kết luận về nội dung từng tranh và hướng dẫn HS dựa vào gợi ý kết hợp quan sát tranh để viết đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc của em về một cảnh vật em yêu thích.

Qua việc sử dụng phương pháp trực quan trong các giờ học luyện viết đoạn văn, tôi thấy học sinh hứng thú hơn trong học tập, việc diễn tả những đặc điểm hay hoạt động của đối tượng cần tả, cần kể bằng bài viết được nâng lên rõ rệt.

1.2. Phương pháp thảo luận nhóm

* Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp phát huy trí tuệ tập thể, tạo điều kiện để học sinh trao đổi, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong việc xác định nội dung, tìm từ, viết câu, sắp xếp ý cho thành đoạn văn. Hầu hết các bài luyện tập viết đoạn văn đều cần sử dụng phương pháp thảo luận nhóm (nhóm đôi hoặc nhóm 4) để HS tìm ý, viết câu, sắp xếp câu thành đoạn văn hoặc đọc cho nhau

nghe bài của mình để cùng sửa lỗi, bổ sung (nếu có).

* Chú ý khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm:

– Chuẩn bị hệ thống câu hỏi hợp lý, phân chia nhóm phù hợp (nhóm không quá đông).

– Giao việc rõ ràng, cụ thể, ngắn gọn.

– Bao quát lớp, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của nhóm hoặc hỗ trợ các nhóm làm việc.

– Đặc biệt tôi thường kết hợp kĩ thuật khăn trải bàn khi cho học sinh thảo luận nhóm 4.

Ví dụ: Khi dạy HS “Viết đoạn văn nêu tình cảm cảm xúc của em về cảnh vật trong tranh” (Bài 6. Cây gạo – Tiết 4, trang 30 sách Tiếng Việt 3, tập 2), tôi đã tiến hành cho HS thảo nhóm 4 bằng kĩ thuật khăn trải bàn theo các gợi ý trong SGK.

 Trong các tiết luyện tập viết đoạn văn, khi học sinh được tham gia thảo luận nhóm, các em phát triển được năng lực hợp tác, phát triển ngôn ngữ, nâng cao năng lực sử dụng từ ngữ trong giao tiếp và vận dụng viết đoạn văn.

1.3. Phương pháp trò chơi

* Trò chơi học tập huy động sự tham gia của tất cả học sinh trong nhóm, trong lớp nhằm kích thích, tăng cường sự tập trung của các em vào các nội dung của bài học, qua đó để đạt được mục tiêu nhận thức tri thức, rèn các kỹ năng cần thiết.

* Các trò chơi thường được sử dụng khi dạy tiết Luyện viết đoạn văn: Ai nhanh, ai đúng”; “Nói, viết câu tiếp sức”; “Sắp xếp câu thành đoạn; …

* Chú ý khi sử dụng phương pháp trò chơi:

– Lựa chọn hoặc thiết kế trò chơi thể hiện rõ mục tiêu của tiết học; hình thức tổ chức chơi đa dạng, luật chơi đơn giản để học sinh dễ nhớ, dễ thực hiện và có nhiều học sinh tham gia để tăng cường kỹ năng học tập hợp tác.

 – Tổ chức chơi vào thời gian thích hợp của tiết học để tạo hứng thú học tập cho học sinh.

Ví dụ: Khi cho HS quan sát tranh, viết đoạn văn kể lại các hoạt động của các bạn nhỏ trong tranh (Bài 4. Những cái tên đáng yêu  – Tiết 4 , SGK Tiếng Việt 3, tập 2), tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Tiếp sức”.

Tôi chia học sinh thành 2 đội, mỗi đội có 7 HS, mỗi HS được gắn 1 thẻ chữ tương ứng với 1 nội dung của hoạt động trồng cây. Học sinh chơi tiếp sức trong cùng thời gian 2 phút. Đội nào gắn thẻ chữ đúng, nhanh thì đội đó thắng cuộc.

          Như vậy, bằng việc vận dụng linh hoạt một số phương pháp tích cực để hướng dẫn học sinh luyện viết đoạn văn tôi thấy các em hứng thú hơn trong học tập, khả năng thực hiện cả 4 kĩ năng nghe – nói – đọc – viết và hoàn thành các bài tập viết đoạn văn theo yêu cầu được nâng lên rõ rệt.

Biện pháp 2. Tích lũy, cung cấp vốn từ cho học sinh

* Muốn viết được một đoạn văn hay, giàu hình ảnh thì điều thiết yếu nhất là học sinh phải có vốn từ phong phú. Từ đó mới có thể lựa chọn từ đúng tạo nên câu văn hay, sinh động, có “màu sắc, âm thanh”. Chính vì vậy, việc bổ sung, tích lũy vốn từ cho học sinh là việc làm hết sức quan trọng trong việc viết đoạn văn bởi từ tạo nên câu, câu tạo nên đoạn văn.

Để việc tích luỹ vốn từ của học sinh được thực hiện thường xuyên, có hệ thống, tôi thường cho học sinh sử dụng “Sổ tay Tiếng Việt” để ghi chép những từ khó đã được giải nghĩa, ghi chép các câu văn hay, các đoạn văn giàu hình ảnh để sử dụng khi cần thiết. Bằng việc ghi chép, các em sẽ được một lần đọc, ghi nhớ, bắt chước, lâu dần thành thói quen. Khi làm bài, những từ ngữ, hình ảnh, ý văn sẽ tự động tái hiện, giúp học sinh có thể vận dụng.

* Có nhiều cách để giúp học sinh tích lũy vốn từ, trong đó tôi thường thực hiện lồng ghép, tích hợp khi dạy các môn học và hoạt động giáo dục.

2.1. Lồng ghép, tích hợp khi dạy các phân môn của môn Tiếng Việt.

Khi dạy phân môn Tập đọc, thông qua các bài đọc, ngoài việc rèn kĩ năng đọc đúng, tôi còn chú trọng rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh. Tôi cho các em nêu các từ khó hiểu nghĩa và tập giải nghĩa từ hoặc yêu cầu các em tập đặt câu để hiểu chắc chắn nghĩa của từ, biến từ đó thực sự là vốn từ của mình. Sau đó, tôi kết luận lại nghĩa của từ và cho các em tự ghi vào “Sổ tay Tiếng Việt”. Ngoài việc học sinh tích lũy đ­ược “vốn liếng từ ngữ” không hề nhỏ qua tiết Tập đọc, tôi còn cho học sinh tìm những câu văn hay, câu văn mang tính nghệ thuật cao trong bài đọc để các em có thể vận dụng khi viết đoạn văn.

Khi dạy Luyện từ và câu, tôi th­ường cho các em củng cố và mở rộng vốn từ qua các dạng bài tập như:

+ Tìm từ theo một chủ điểm, nối từ với nghĩa thích hợp, điền từ thích hợp vào chỗ chấm, đặt câu,… góp phần bổ sung và mở rộng vốn từ ngữ cho học sinh. Thông qua các bài tập, tôi đã phát huy được vốn từ sẵn có của học sinh và mở rộng thêm vốn từ cho các em, giúp các em biết sử dụng các từ ngữ đó.

+ Điền từ thích hợp vào chỗ chấm là dạng bài tập vừa có tác dụng mở rộng vốn từ cho học sinh vừa giúp các em biết viết câu văn có hình ảnh. Việc chọn từ ngữ phù hợp điền vào câu văn đã giúp học sinh củng cố, mở rộng vốn từ và khuyến khích học sinh học tập tốt hơn.

Ví dụ: Khi dạy Bài 4, tiết Luyện từ và câu (SGK Tiếng Việt 3 tập 2) tôi cho HS làm bài tập 2 ra phiếu bài tập như sau:

Tìm từ có nghĩa giống với từ in đậm trong mỗi câu rồi điền vào chỗ chấm cho phù hợp

  1. a) Trên bãi cỏ xanh mướt mọc lên một cây nấm mập mạp.

    Trên bãi cỏ …………… mọc lên một cây nấm mập mạp.

  1. b) Chiếc bàn xinh xắn ơi, thức uống ở đây thật ngon!

     Chiếc bàn ………… ơi, thức uống ở đây thật ngon!

  1. c) Hai chú bướm gọi nấm là chiếc mũ kì lạ.

    Hai chú bướm gọi nấm là chiếc mũ …………..

Qua bài tập trên, học sinh tìm được rất nhiều từ có nghĩa giống nhau và vận dụng viết câu văn phù hợp.

2.2. Tích lũy vốn từ thông qua các môn học khác

 Trong giảng dạy các môn học này, tôi đều cho học sinh nêu những từ ngữ mà các em chưa hiểu nghĩa để cả lớp cùng tập giải nghĩa. Sau khi học sinh đã hiểu nghĩa của từ, các em tự bổ sung từ ngữ đó vào vốn từ của mình. Ngoài ra, tôi còn rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ để trả lời câu hỏi đúng trọng tâm, ngắn gọn, rõ nghĩa, tránh rườm rà, tránh nhầm lẫn khi tìm hiểu nội dung bài học.

Ví dụ 1: Khi dạy Bài 11. Di tích lịch sử – văn hóa và cảnh quan thiên nhiên (Sách TNXH lớp 3 trang 48) tôi cho HS hiểu nghĩa từ ngữ “di tích lịch sử”, “cảnh quan thiên nhiên” để trau dồi thêm vốn từ cho học sinh vận dụng khi viết đoạn văn về cảnh đẹp quê hương, cảnh đẹp đất nước.

Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề: “Cuộc sống xanh” (SGK HĐTN lớp 3 trang 73), tôi giúp HS hiểu nghĩa từ ngữ “cuộc sống xanh”, “môi trường xanh” để các em tích lũy vốn từ ngữ, vận dụng viết tốt đoạn văn kể lại một việc làm góp phần bảo vệ môi trường.

Qua việc làm này, học sinh tự trau dồi được vốn từ ngữ nhất định để áp dụng vào từng bài viết cụ thể trong chương trình.

2.3.  Xây dựng hệ thống “Ngữ liệu Tiếng Việt 3”

Tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu và xây dựng hệ thống các từ ngữ được dùng trong các dạng bài khác nhau như: dạng bài viết đoạn văn tả đồ vật, tả cảnh, hay nêu cảm xúc về người, cảnh vật….

Sau khi xây dựng hệ thống ngữ liệu từ ngữ Tiếng Việt 3, tôi hướng dẫn học sinh cách sử dụng, tra cứu ngữ liệu với mỗi bài học khác nhau.

Qua việc xây dựng và hướng dẫn học sinh tra cứu ngữ liệu, tôi đã cung cấp cho học sinh nhiều từ ngữ theo từng dạng bài, các em có nhiều lựa chọn từ để đặt câu, viết đoạn văn phù hợp với từng bài.

* Lưu ý khi tích luỹ, cung cấp vốn từ cho học sinh:

+ Đa dạng hoá các hình thức làm giàu vốn từ;

+ Hướng dẫn HS phương pháp tự làm giàu vốn từ;

+ Việc làm giàu vốn từ cho HS được thực hiện thường xuyên, liên tục trong giao tiếp và trong tất cả các hoạt động hàng ngày.

Sau khi thực hiện các việc làm trên học sinh lớp tôi đã tích luỹ được lượng “vốn liếng từ ngữ” nhất định và vận dụng để nói, viết rất tốt.

Biện pháp 3: Rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh

          3.1. Rèn kĩ năng viết câu đúng

 Khi rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh, tôi đi sâu vào cách hướng dẫn học sinh rèn kỹ năng viết câu đúng (đúng cấu trúc câu, đúng nội dung, không rườm rà tối nghĩa) dựa trên việc học sinh đã nắm được mẫu câu, dấu hiệu nhận biết cũng như tác dụng của từng mẫu câu, kiểu câu.

Để học sinh viết được câu đúng, tôi luôn lưu ý cho học sinh bám sát mẫu câu, kiểu câu đã học bởi vì HS có đọc đúng, nói đúng thì mới viết đúng. Khi học sinh nói câu, tôi sẽ yêu cầu nói câu đầy đủ các bộ phận, có đầu có cuối, rõ ý thông báo.

Ví dụ: Khi tôi yêu cầu học sinh đặt câu theo các kiểu câu đã học, các em đã viết và trình bày câu văn đúng yêu cầu (đúng kiểu câu, nội dung rõ ràng, đầu câu viết hoa, cuối câu viết dấu phù hợp.)

          Câu kể: Mẹ em là công nhân may.      

Câu hỏi: Bạn yêu thích cảnh đẹp nào nhất?

          Câu cảm: Con yêu mẹ nhiều lắm!

          Câu khiến: Bạn hãy nêu tên câu chuyện mà bạn yêu thích nhất!

– Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh viết câu đúng, việc rèn kĩ năng chữa câu lủng củng, rườm rà cũng hết sức quan trọng. Tác dụng của dạng bài tập này là giúp học sinh viết  được những câu văn ngắn gọn, rõ nghĩa.

          Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh viết đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc của em với người thân (Bài 22. Để cháu nắm chắc tay ông – Tiết 4, SGK Tiếng Việt 3, trang 103), có học sinh viết câu như sau:

          + Khi thường rảnh rỗi em thường sang nhà ông để thăm ông.

Tôi hướng dẫn học sinh nhận xét về cách dùng từ, viết câu. Học sinh đã phát hiện ra hiện tượng lặp từ “thường”, “ông” và cách diễn đạt câu văn lủng củng, rườm rà. Sau đó tôi cho học sinh sửa lại được câu: “Khi rảnh rỗi, em thường sang thăm ông.”

          3.2. Rèn kĩ năng viết câu văn gợi tả, gợi cảm

Để viết được câu văn giàu hình ảnh, đầu tiên tôi cho học sinh tiếp xúc với nhiều câu văn, câu thơ hay trong các bài tập đọc hoặc câu do chính học sinh trong lớp viết. Tôi yêu cầu học sinh đọc đi đọc lại nhiều lần để các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong từng câu văn, câu thơ. Sau đó, tôi cho học sinh so sánh các câu văn để biết được câu nào hay hơn, giàu hình ảnh hơn. Từ đó các em biết cách viết lại câu văn cho hay hơn và khuyến khích học sinh tập viết nhiều câu văn hay như vậy.

  Ví dụ: Chiếc bút chì dài.

-> Chiếc bút chì dài gần bằng một gang tay. (Sử dụng hình ảnh so sánh)

-> Chiếc bút chì dài và thon nhỏ như chiếc đũa. (Thêm từ gợi tả và hình ảnh so sánh)

Ngoài ra khi dạy về câu, tôi luôn mở rộng cho học sinh về tác dụng của từng bộ phận trong câu như: Bộ phận trả lời câu hỏi “Khi nào?”, “Ở đâu?”, “Vì sao?”, “Bằng gì?”, “Để làm gì?”…. Bên cạnh đó, tôi còn tổ chức cho học sinh viết câu văn hay với chủ đề cho trước như: tả đồ vật, tả ngôi nhà, tả một cảnh đẹp em yêu thích,…  hoặc viết câu với chủ đề tự chọn. Học sinh rất hào hứng tham gia và viết được nhiều câu văn hay.

Ví dụ: Khi tôi yêu cầu HS viết câu văn nêu tình cảm, cảm xúc về cảnh đẹp quê hương (Bài 18. Núi quê tôi-Tiết 4, SGK Tiếng Việt 3 tập 2, trang 86) HS đã viết được các câu văn như sau:

Sau khi học sinh viết xong, tôi chiếu các câu văn đã viết lên để các em đọc, nhận xét về nội dung và cách trình bày câu văn. Qua hoạt động này, các em sẽ tìm được các câu văn hay, giàu hình ảnh và cũng học tập được cách viết câu văn hay của bạn.

3.3. Rèn kĩ năng viết đoạn văn

           Để học sinh có kĩ năng viết được đoạn văn theo đúng yêu cầu thì trước hết học sinh phải nắm được bố cục của một đoạn văn gồm 3 phần (Mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn). Ở lớp 3, học sinh chủ yếu dựa vào các câu hỏi gợi ý để viết đoạn văn. Các câu hỏi gợi ý trong SGK thường được sắp xếp theo bố cục của đoạn văn yêu cầu viết. Câu mở đoạn thường là câu giới thiệu đối tượng mà học sinh định kể, tả. Tiếp theo là các câu thuộc phần thân đoạn viết về nội dung theo yêu cầu của bài. Câu kết đoạn có thể nêu cảm nghĩ hoặc nêu nhận xét về đối tượng vừa viết.

Ví dụ: Khi dạy học sinh viết đoạn văn kể lại diễn biến của một hoạt động ngoài trời mà em được chứng kiến hoặc tham gia (SGK Tiếng Việt 3, tập 2, trang 14)

          – Để hướng dẫn HS viết câu mở đoạn, tôi đặt câu hỏi học sinh: Hoạt động ngoài trời mà em đã được chứng kiến hoặc tham gia là gì? Diễn ra ở đâu, khi nào? Những ai tham gia?

           – Khi viết các câu phần thân đoạn (Nêu diễn biến của từng hoạt động), tôi cho học sinh trả lời các câu hỏi gợi ý sau: Việc gì diễn ra đầu tiên? Những việc gì diễn ra tiếp theo? Hoạt động kết thúc thế nào? (Mỗi gợi ý học sinh có thể diễn đạt 2 đến 3 câu tùy theo năng lực viết của các em.)

          – Viết câu kết đoạn: Học sinh nêu nhận xét về hoạt động.

Với việc chú trọng rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh, tôi nhận thấy các em đã hoàn thành tốt các đoạn văn trong các tiết học Luyện viết đoạn văn.

III.  Kết quả thực hiện

Sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên vào dạy học, thời điểm cuối năm học 2023 -2024, kết quả thực hiện viết đoạn văn của học sinh lớp tôi được nâng lên rõ rệt. Hầu hết học sinh lớp tôi đã nắm vững bố cục đoạn văn, biết cách đặt câu và liên kết câu thành đoạn văn theo đúng yêu cầu. Nhiều học sinh còn biết vận dụng sáng tạo khi viết đoạn văn, các em biết sử dụng thành thạo từ ngữ để viết câu có hình ảnh, có cảm xúc, vận dụng kiến thức đã học vào giao tiếp trong thực tế rất tốt.

Dưới đây là kết quả đánh giá chất lượng viết đoạn văn của lớp tôi tại thời điểm cuối năm học 2023 – 2024.

Đề bài: Viết đoạn văn kể lại một việc làm góp phần bảo vệ môi trường mà em đã tham gia hoặc chứng kiến. (Bài 2, Trang 125 – Tiếng Việt 3, Tập 2).

Kết quả cụ thể tổng hợp bằng bảng sau:

Bảng 2:  Kết quả khảo sát chất lượng viết đoạn văn lớp 3B

Cuối năm học 2023-2024

Số HS Số bài viết sáng tạo Số bài viết đúng yêu cầu Số bài dùng từ viết câu chưa hợp lý Số bài chưa đạt yêu cầu
34 SL % SL % SL % SL %
4 11,8 25 73,5 5 14,7 0 0

Tôi đã tổng hợp kết quả trên và lập biểu đồ so sánh kết quả khảo sát cuối học kì I và cuối năm như sau:

So với kết quả cuối kì I, tôi thấy tỉ lệ học sinh viết được đoạn văn sáng tạo tăng từ 5,9% lên đến 11,8%, bài viết đúng yêu cầu tăng 29,4%, đặc biệt là không còn học sinh nào chưa viết được đoạn văn theo yêu cầu. Đây là một kết quả rất đáng mừng! Điều này một lần nữa khẳng định tính hiệu quả của các biện pháp (vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học; tích luỹ, cung cấp vốn từ; rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh) mà tôi đã thực hiện.

Năm học 2024 – 2025, biện pháp này cũng đã được đồng nghiệp trường tôi áp dụng thực hiện.Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để biện pháp này hoàn thiện hơn và được áp dụng rộng rãi không chỉ với các bài viết đoạn văn ở lớp 3 mà tới tất cả các khối lớp trong toàn trường.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

  Người viết : Trần Phương Hồng.